Hiển thị các bài đăng có nhãn I Love You Việt NAM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn I Love You Việt NAM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2014

Cộng đồng mạng đổi avatar hướng về Biển Đông


Đây không chỉ là hành động thể hiện lòng tự tôn dân tộc mà còn để thể hiện tinh thần yêu nước, sẵn sàng khi tổ quốc cần của thế hệ trẻ Việt.
Cộng đồng mạng đổi avatar hướng về Biển Đông - 1
Trong tối qua và sáng nay (8/5), khi tình hình tại Biển Đông đang trở nên nóng thì trên khắp các trang mạng xã hội, giới trẻ cùng nhau đổi avatar quốc kỳ Việt Nam hoặc hình ảnh thể hiện chủ quyền, sức mạnh dân tộc.

Việt Nam hoàn tất thủ tục kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về Biển Đông

Năm 2014 đánh dấu hai sự kiện lớn trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc: Kỷ niệm 40 năm ngày Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, khiến 74 chiến sĩ Quân đội Việt Nam Cộng hòa hy sinh, và kỷ niệm 35 năm ngày Trung Quốc tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược chống Việt Nam.


Ngày 14 tháng 3 năm nay cũng đánh dấu 26 năm ngày Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm đảo Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa, khiến 64 chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam hy sinh.
Qua nguồn tư liệu do nhà nước Việt Nam phổ biến công khai sau cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc và qua đối chiếu với nguồn tư liệu độc lập để kiểm chứng, ba điểm mốc thời gian của năm 1974, 1979, và 1988 phản ánh các mắt xích trong một chiến lược lâu dài, nhất quán, của Trung Quốc nhắm vào Việt Nam: Bắt đầu từ thập niên 1950 cho đến ngày nay, bằng những mưu đồ, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt khác nhau, thay đổi tùy tình huống, Trung Quốc luôn luôn muốn kiềm chế Việt Nam, giữ Việt Nam ở vị thế nước yếu kém, lệ thuộc vào Trung Quốc.
Mặc dù vào năm 1979, Trung Quốc thất bại thảm hại trong việc sử dụng hàng trăm ngàn quân tinh nhuệ và hoả lực hùng hậu để “dạy” cho Việt Nam một bài học, kể từ sau Hội nghị Thành Đô năm 1990, Trung Quốc thành công đáng kể trong nỗ lực kiềm chế Việt Nam, đặc biệt là trong vấn đề Biển Đông.

Kiện toàn hồ sơ

Do Việt Nam có chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa rõ ràng, vững chắc, và do hành động ngang ngược, bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc trên Biển Đông, nhiều năm trước, người viết đề nghị Việt Nam kiện toàn hồ sơ chủ quyền, tham vấn chuyên gia người nước ngoài, tranh thủ ủng hộ của khu vực và thế giới trong việc sử dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc.
Thực tế cho thấy, trong gần 20 năm, lãnh đạo Việt Nam chủ trương giải quyết tranh chấp “thông qua đàm phán hòa bình”, trên tinh thần “vừa là đồng chí, vừa là anh em”, và trên cơ sở “16 chữ vàng, 4 tốt”. Việt Nam hoàn toàn bị động, tiêu cực, không có một phương án nào khác biệt với lập trường của Trung Quốc cho Biển Đông.
Trong cùng thời gian, Trung Quốc tích cực xây dựng sức mạnh trong cả hai lãnh vực quyền lực mềm và quyền lực cứng về Biển Đông: Ban hành “Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp” bao gồm quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa năm 1992 (20 năm trước khi Luật Biển Việt Nam được ban hành).
Kể từ giữa thập niên 1990, họ đầu tư vào các học viện, trung tâm nghiên cứu chiến lược, quy mô lớn, thu hút sự tham gia của giới nghiên cứu, chuyên gia người nước ngoài. Họ vận động để có quan toà Trung Quốc trong hai cơ chế luật pháp quốc tế: Toà án Quốc tế (ICJ) và Toà án Luật Biển (ITLOS).
Kể từ năm 1999, Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh cá ba tháng mỗi năm, bao gồm vùng biển của Việt Nam; hiện đại hoá lực lượng hải quân để gia tăng sự hiện diện của Trung Quốc trên toàn bộ Biển Đông; lôi kéo đồng minh trong khối ASEAN; nâng cấp đơn vị hành chính quản lý các đảo chiếm đóng bất hợp pháp thuộc Hoàng Sa-Trường Sa, v.v.
Việt Nam và Trung Quốc thắt chặt quan hệ nhưng còn mâu thuẫn vì biển đảo
Mãi cho đến đầu năm 2013, lãnh đạo Việt Nam mới đề cập đến sử dụng công cụ luật pháp quốc tế trong giải quyết tranh chấp Biển Đông.
Vài diễn biến đáng ghi nhận trong ba tháng đầu năm 2014 là việc nhà nước cho kỷ niệm một cách giới hạn 40 năm trận đánh Hoàng Sa giữa hải quân Việt Nam Cộng hoà và hải quân Trung Quốc, cho thành lập Quỹ hỗ trợ nghiên cứu biển Đông để thúc đẩy việc nghiên cứu, và trong một cuộc gặp chính thức, Đại sứ Việt Nam tại Philippines thông báo cho phó Tổng thống nước bạn biết là Việt Nam ủng hộ Philippines trong cuộc tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc.
Các bước đi này, dù muộn màng nhưng đúng hướng, cần thiết phải có cho quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa và bảo vệ quyền lợi đất nước trên Biển Đông.
Những bước đi khác mà Việt Nam nên khẩn trương thực hiện song song là:
- hoàn chỉnh một cách khoa học, nghiêm túc, hồ sơ bằng chứng chủ quyền Hoàng Sa-Trương Sa qua đóng góp của giới nghiên cứu (độc lập cũng như trực thuộc bộ máy chính quyền) và qua tham vấn chuyên gia luật pháp quốc tế người nước ngoài
- trong khi hiện đại hóa quốc phòng là điều không thể thiếu trước tham vọng bành trướng của Trung Quốc, là nước yêu chuộng hoà bình, Việt Nam tiếp tục phát huy mặt thuận lợi trong quan hệ ngoại giao với các nước, trong và ngoài khu vực
- do điều kiện đảo, đá, do nhu cầu giảm thiểu mức độ xung đột, tranh thủ ủng hộ của quốc tế, và do khả năng vô hiệu hoá đòi hỏi đường lưỡi bò của Trung Quốc, Việt Nam chủ trương quy định ngay cả đảo lớn nhất thuộc Hoàng Sa và Trường Sa có lãnh hải 12 hải lý và không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa
Việt Nam nên năng động, tích cực trình bày cho thế giới thấy rõ rằng, do vị thế chiến lược của các đảo này, Hoàng Sa-Trường Sa đóng vai trò then chốt trong đòi hỏi đường lưỡi bò của Trung Quốc.

Mang lại ổn định

Quyết tâm của Việt Nam nhằm thúc đẩy sử dụng luật pháp quốc tế trong giải quyết tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc không chỉ để giải quyết vấn đề chủ quyền lãnh hải giữa những bên liên hệ mà còn để mang lại ổn định cho tất cả các nước có giao thông hàng hải đi ngang qua một khu vực quan trọng hàng đầu thế giới và có diện tích rộng bằng một phần ba diện tích nước Mỹ.
Nhân chuyến viếng thăm Trung Quốc của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry vào giữa tháng 2 năm 2014, Trung Quốc tuyên bố tranh chấp Biển Đông cần được giải quyết thông qua đàm phán song phương, trên cơ sở chứng cứ lịch sử và luật pháp quốc tế.
Để tạo đột phá trong bế tắc hiện nay và để tranh thủ thuận lợi hiện có, xét từ góc độ luật pháp quốc tế và tình hình khu vực, Việt Nam nên hoặc tự mình, trong trường hợp Hoàng Sa, hoặc cùng Philippines, Malaysia, trong trường hợp Trường Sa, hoặc một kết hợp khéo léo của cả hai phương án, công khai kêu gọi Trung Quốc đồng ý để cơ chế luật pháp quốc tế giải quyết tranh chấp Biển Đông.
Trung Quốc có quan tòa đại diện trong Toà án Quốc tế và Tòa án Luật Biển; Trung Quốc cũng luôn luôn khẳng định trước dư luận thế giới là họ có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý hậu thuẫn cho đòi hỏi đường lưỡi bò nói chung và quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa nói riêng.
Nếu khẳng định chủ quyền của Trung Quốc là dựa trên cơ sở sự thật, khó có bất kỳ lý do chính đáng nào cho Trung Quốc viện dẫn để từ chối vai trò giải quyết tranh chấp giữa các nước mà Tòa án Quốc tế đã và đang hành xử hữu hiệu trong hơn 60 năm nay.
Việt Nam đang thật sự đối diện với một trách nhiệm to lớn mà lịch sử giao phó: sử dụng công cụ luật pháp quốc tế để duy trì an ninh và trật tự trong một khu vực trọng yếu của thế giới.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, một chuyên gia khoa học không gian hiện sinh sống ở Hoa Kỳ.

Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2014

Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 " ngày giải phóng miền Nam"

      




           Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, thường được gọi là 30 tháng Tư, ngày giải phóng miền Nam, ngày Thống Nhất (tên gọi tại Việt Nam) hay ngày miền Nam sụp đổ (báo chí Tây phương gọi là Sài Gòn thất thủ, Fall of Saigon), Ngày Quốc Hận và Tháng Tư Đen trong cộng đồng người Việt tị nạn, là sự kiện chấm dứt Chiến tranh Việt Nam khi tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh cùng nội các bị bắt tại chỗ và phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện các lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vào sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày này là kết quả trực tiếp của Chiến dịch Mùa Xuân năm 1975 và là một mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam.


Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh, theo tên của cố Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hồ Chí Minh. Sự kiện 30 tháng 4 diễn ra sau khi tất cả công dân và lính Mỹ cùng với hàng ngàn người Việt ở miền Nam Việt Nam di tản khỏi Sài Gòn. Vì nhiều người tị nạn đã di tản và chính phủ Việt Nam Xã hội chủ nghĩa đã áp dụng luật mới góp phần làm cho dân số thành phố giảm xuống sau đó.

copyright IloveYou ViệtNam


Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

Bài học xương máu từ chế độ diệt chủng Pol Pot - Khmer Đỏ

Tập đoàn Pol Pot khéo che giấu bản chất trong thời gian dài, cố gắng lợi dụng niềm tin và sự trợ giúp chí tình của Việt Nam.
Chúng ta phải biết rằng chính Trung Quốc và Mỹ đứng sau nuôi dưỡng đội quân khát máu này. Nhằm thay họ thau tóm và mở rộng thế lực trên trường quốc tế bnạ có thể vào  http://vi.wikipedia.org/wiki/Pol_Pot  Để hiểu rõ thêm
Có thể nói một điều rằng phái “Khmer Đỏ” tại Campuchia (tức “Đảng Cộng sản Campuchia” của Pol Pot) đã chà đạp lên lòng tốt và sự chân thành của nhân dân Việt Nam, quân đội nhân dân Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bè lũ Pol Pot trong lúc khai thác sự giúp đỡ của Việt Nam đã lên kế hoạch phá hoại và xâm lược Việt Nam. Hoạt động gây rối và xâm lấn mà tập đoàn này thực hiện từ giữa năm 1975 trở đi là có tính toán từ trước. 
Vì tập trung vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và chân thành giúp đỡ những người anh em Lào, Campuchia nên Việt Nam đã phần nào bất ngờ trước sự chuyển hóa tư tưởng và phản bội của Pol Pot có từ đầu thập niên 1960 và lộ rõ dần từ giữa năm 1975.
Dã thú mang bộ mặt người
Được ngoại bang giúp sức, những kẻ “tâm thần” chính trị như Pol  Pot, Ieng Sary, Khieu Samphan… đã gây ra thảm kịch núi xương sông máu ngay tại chính đất nước Campuchia, đặt dân tộc Campuchia bên bờ diệt vong, và đẩy an ninh bán đảo Đông Dương vào chỗ bị đe dọa nghiêm trọng.
Xương cốt các nạn nhân chế độ diệt chủng Pol Pot (ảnh: katrinasblogproject)

Sau khi lên cầm  quyền ở Campuchia vào tháng 4/1975, Khmer Đỏ đã phạm các tội ác trời không dung đất không tha, giết hại dã man không chỉ người Campuchia mà còn cả người nước ngoài ở Campuchia và người Việt Nam sống gần biên giới với nước này. Bọn chúng đã thi hành chính sách diệt chủng đối với trí thức, người thành thị, người dân tộc thiểu số, và kể cả nhiều đảng viên, công chức và binh lính của chế độ. Người dân Campuchia dễ dàng bị hành quyết vì những lý do rất nhỏ nhặt. Khmer Đỏ vừa dìm nhân dân Campuchia trong bể máu vừa tiến hành thanh trừng nội bộ một cách tàn bạo.
Ở một phương diện nào đó, có thể thấy lực lượng Khmer Đỏ cầm quyền ở Campuchia man rợ hơn cả phát xít Đức bởi vì chúng tự hủy diệt chính dân tộc mình. Xét về tỷ lệ người bị sát hại trên tổng số dân của đất nước thì mức độ diệt chủng của Khmer Đỏ cao hơn hẳn. Đã vậy chúng còn áp dụng các biện pháp hành hình tàn bạo thời trung cổ, sử dụng phổ biến các công cụ thô sơ để làm điều này (chẳng hạn, dùng cuốc xẻng đập nát sọ nạn nhân). Trong khi đó, phát xít Đức ưa giết người hàng loạt bằng súng và hơi ngạt.
Dưới chính thể “Campuchia Dân chủ”, người dân Campuchia không chỉ chết vì bạo lực của Khmer Đỏ mà còn chết vì bị bỏ đói, bị mất mùa, bị ép lao động quá sức và phải dùng thuốc tự chế trong dân gian. Các chính sách của Khmer Đỏ dẫn tới cái chết của khoảng 2 triệu người dân Campuchia, chiếm 1/4 dân số nước này khi đó.
Một điều trớ trêu là, những tên đồ tể ở vị trí quyền lực cao nhất như Pol Pot và Ieng Sary cổ xúy việc giết hại trí thức trong khi chính chúng cũng là những trí thức có nhiều điều kiện học hành tử tế nhất Campuchia. Những tên như thế này không bị đụng chạm đến trong cuộc “cải tạo” xã hội đẫm máu do chúng phát động.
Binh lính Khmer Đỏ (ảnh: DPA)

Hôm 5/1 vừa qua, chính đương kim Chủ tịch Quốc hội Vương quốc Campuchia Heng Samrin đã khẳng định: “Chế độ diệt chủng Pol Pot là chế độ tàn bạo chưa từng có trên thế giới. Dưới sự cầm quyền của chế độ vô cùng dã man này, nhân dân Campuchia đã phải hứng chịu muôn vàn thống khổ, không khác gì súc vật, bị cấm đoán quyền tự do, bị tàn sát hàng loạt. Chúng đem chính nhân dân mình ra làm thí nghiệm để thực hiện học thuyết chính trị đen tối của chúng”.
Với “đồng bào” của mình mà Khmer Đỏ còn đối xử như vậy nên chuyện vong ơn bội nghĩa đối với những người bạn nước ngoài là hoàn toàn dễ hiểu. Tập đoàn Pol Pot đã thay đổi thái độ, từ chỗ coi Việt Nam là người bạn số 1 sang coi Việt Nam là kẻ thù số 1.
Việt Nam không tiếc của cải, phương tiện và xương máu giúp Khmer Đỏ giải phóng Phnom Penh, giải phóng Campuchia khỏi chế độ ngụy của Mỹ. Nhưng ngay sau thắng lợi này, chúng đã lập tức phản bội, quay súng bắn thẳng vào các đồng chí Việt Nam thủy chung, thân thiết từng sát cánh với chúng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trên cõi Đông Dương.
Khmer Đỏ đã xua quân đánh chiếm đảo Phú Quốc vào ngày 3/5/1975, đảo Thổ Chu ngày 10/5/1975, xâm phạm nhiều vùng lãnh thổ nước ta dọc biên giới từ Hà Tiên đến Tây Ninh. Sang năm 1977, tập đoàn Pol Pot bên trong thì đẩy mạnh thanh trừng nội bộ, bên ngoài thì hô hào kích động hằn thù dân tộc với Việt Nam, tăng cường lấn chiếm lãnh thổ nước ta. Cuối năm 1978 chúng liều lĩnh huy động tới 23 sư đoàn tấn công đại quy mô vào Việt Nam.
Bản chất đạo đức giả, cách mạng giả
Thoạt tiên người ta rất ngạc nhiên về việc “Đảng Cộng sản Campuchia” lại có thể phạm các tội ác tày trời với nhân dân họ và phát động chiến tranh xâm lược Việt Nam. Nhưng nhìn kỹ vào những diễn biến trong nội bộ phong trào cách mạng Campuchia thì chúng ta sẽ thấy logic của tình hình này.
Đảng nói trên thành lập vào năm 1951 (phát xuất từ đảng Nhân dân Cách mạng Khmer) nhưng từ những năm 1960 đã bắt đầu biến chất ở hàng ngũ cao nhất, khi các đảng viên cộng sản thuộc “nhóm Paris” từ Pháp trở về và bằng nhiều thủ đoạn, chiếm ưu thế trong Đảng Cộng sản Campuchia, vượt qua đội ngũ đảng viên trung kiên sát thực tế đã chịu nhiều tổn thất trong cuộc đối đầu với thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Đồ tể Pol Pot, trùm chế độ diệt chủng Khmer Đỏ. Ảnh này chụp năm 1979 vào thời điểm y chạy về biên giới với Thái Lan (nguồn: AP)

Phái Paris này chịu ảnh hưởng của tư duy siêu hình, thoát ly khỏi chủ nghĩa quốc tế, không thấy được tầm quan trọng tất yếu của sự đoàn kết giữa 3 nước Đông Dương trong cuộc đấu tranh chung vì độc lập dân tộc của mỗi nước.
Chúng lộ rõ chân tướng từ giữa năm 1975 – thời điểm chúng lên cầm quyền, thiết lập chính thể “Campuchia Dân chủ” và bắt đầu thi hành chính sách diệt chủng trong nước.
Khmer Đỏ đã cho “tái cơ cấu” toàn bộ xã hội Campuchia theo hướng sản xuất nông nghiệp tự túc và không còn giai cấp. Chúng đã di dân khỏi đô thị, bắt họ tập trung vào làm nông nghiệp. Chúng xóa bỏ mọi thể chế xã hội, phá hủy chợ búa, hệ thống ngân hàng và tiền tệ, các bệnh viện, trường học, đặng tiến ngay lên chủ nghĩa cộng sản không cần qua các bước “trung gian” mà chúng cho là chậm chạp.
Từ năm 1963, Khieu Samphan và Hou Youn (đều là trí thức và là lãnh đạo cao cấp sau này của Khmer Đỏ) đã nhất trí rằng xã hội mới phải “trở về với thiên nhiên” thuần khiết, phải dựa trên giai cấp nông dân còn các giai cấp khác phải bị xóa sạch.
Như vậy ngay từ đầu các lãnh đạo này đã không đứng vững trên lập trường của giai cấp vô sản. Về thực chất, từ những năm 1963-1964 Đảng Cộng sản Campuchia đã đoạn tuyệt với chủ nghĩa Marx.
Bọn họ cũng thể hiện tư tưởng dân tộc cực đoan qua việc nhấn mạnh đến sự vượt trội của người Khmer so với các tộc người khác. Từ rất sớm, Pol Pot (Tổng bí thư Đảng Cộng sản Campuchia khi đó) đã nuôi tham vọng khôi phục lại đế chế Khmer xưa.
Nhằm lợi dụng uy tín của phong trào cộng sản để giành bá quyền lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở Campuchia, tập đoàn Pol Pot thậm chí còn chủ động đổi tên đảng Nhân dân Cách mạng Khmer (tách ra từ Đảng Cộng sản Đông Dương) thành Đảng Cộng sản Campuchia.
Có thể nói, phong trào của Pol Pot là một dạng chủ nghĩa dân tộc cực đoan phản động. Nó khoác vỏ bọc cộng sản để tận diệt những người cộng sản chân chính, tích cực sử dụng ngôn ngữ cách mạng để phá hoại cách mạng một cách không thương tiếc.
Những diễn biến này không có gì lạ. Chủ nghĩa phát xít Đức khét tiếng chống cộng và chống lại loài người cũng lấy danh là chủ nghĩa quốc gia Xã hội chủ nghĩa (gọi tắt là Quốc xã).
Một số lực lượng thù địch với chủ nghĩa xã hội nói chung và nước Cộng hòa XHCN Việt Nam nói riêng cố tình đồng nhất Khmer Đỏ với những người cộng sản nói chung. Trước luận điệu này, cần phải phân biệt rõ giữa đảng cộng sản chân chính và đảng cộng sản giả hiệu, lừa bịp giống như đảng của tập đoàn Pol Pot.
Trên thực tế, đến năm 1981 nhóm Khmer Đỏ đã chính thức tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa cộng sản và tự đổi tên từ Đảng Cộng sản Campuchia thành Đảng Campuchia Dân chủ! Lúc này, hình thức tên gọi đã không còn phản ánh sai lệch nội dung nhiều nữa.
Vai trò của Việt Nam
Trước các khiêu khích của quân Khmer Đỏ ở vùng biên giới từ năm 1975 trở đi, Việt Nam đã rất kiềm chế và tỏ rõ tinh thần thiện chí, hợp tác hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc. Nhưng bản chất của bè lũ Khmer Đỏ là không thay đổi. Đáp lại lời kêu cứu của nhân dân Campuchia và lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết Cứu quốc Campuchia, Việt Nam đã không chỉ đánh tan bọn xâm lược mà còn đưa quân giúp nhân dân Campuchia lật đổ ách thống trị bạo tàn của Khmer Đỏ vào ngày 7/1/1979. Hành động của Việt Nam xuất phát từ nhu cầu tự vệ chính đáng, trách nhiệm quốc tế cũng như lương tâm của một dân tộc từng chịu nhiều áp bức và ngoại xâm.
Xe tăng Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia (ảnh: giaoducnet)

“Chỉ có đất nước Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã tự nguyện đưa con cháu và những người thân yêu của mình đến giúp giải phóng và cứu tính mạng của người dân Campuchia trong lúc vô cùng nguy nan và khẩn cầu các nước đến cứu giúp”, Chủ tịch Quốc hội Campuchia Heng Samrin nói tại lễ kỷ niệm sự kiện này vào hôm 5/1. “Sự giúp đỡ bằng xương máu của quân tình nguyện Việt Nam là sự giúp đỡ nhân đạo và đúng đắn nhất. Sự hỗ trợ này lẽ ra phải là nghĩa vụ chính yếu của cộng đồng quốc tế trong việc cứu giúp một dân tộc đang trong hoạn nạn bởi chính sách diệt chủng có tổ chức chính quy từ trên xuống dưới của chế độ Pol Pot”.
Trong khi đó, Thủ tướng Campuchia Hun Sen vào ngày 27/12/2013 có nói: “Quân dân Campuchia nếu không có sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam thì không thể giải phóng nhanh đến thế. Nếu Campuchia tự giải phóng thì dân Campuchia chết hết rồi”.
Xuất hiện kịp thời và với động cơ trong sáng, quân tình nguyện Việt Nam đã được nhân dân Campuchia gọi là đội quân nhà Phật. Nhìn nhân dân Campuchia bịn rịn tiễn đưa bộ đội tình nguyện Việt Nam về nước mới thấy tình cảm quý mến của họ dành cho quân đội Việt Nam lớn nhường nào.
Nếu Việt Nam ích kỷ thì họ chỉ cần đánh bật quân Khmer Đỏ ngược trở lại lãnh thổ Campuchia, đóng chặt biên giới, không cho người tị nạn chạy sang, để mặc cho “nhà hàng xóm” tàn lụi vì hỏa hoạn. Thực tế vào năm 1979, kinh tế Việt Nam gặp muôn vàn khó khăn còn các thế lực quốc tế đang nhăm nhe kiếm cớ phá hoại và can thiệp vào Việt Nam. Xét từ góc độ lợi ích thuần túy thì một cuộc chiến kéo dài với nước khác tại thời điểm ấy là bất lợi cho Việt Nam.
Thế nhưng lương tâm dân tộc Việt Nam không cho phép khoanh tay ngồi nhìn chế độ Khmer Đỏ diệt sạch nhân dân và nền văn hóa Campuchia.
Việc Việt Nam đóng quân một thời gian dài sau đó tại Campuchia cũng là cần thiết nhằm ngăn chặn chế độ Khmer Đỏ khôi phục trở lại và để giúp đỡ Campuchia hồi sinh sau khi tập đoàn Pol Pot đã phá hủy gần như tất cả.
Việt Nam đã chấp nhận rủi ro bị hiểu lầm và thiệt thòi về mọi mặt khi đưa quân đồn trú vào Campuchia. Nếu như lúc đó Việt Nam tính toán thiệt hơn và lo tránh “điều tiếng” thì chắc chắn không có sự cứu giúp này. Nói như đương kim Thủ tướng Chính phủ Hoàng gia Campuchia, vì giúp đỡ Campuchia mà Việt Nam đã phải hy sinh nhiều binh sĩ tình nguyện, bị cô lập về ngoại giao, và bị trừng phạt về kinh tế. Và do đó, Thủ tướng Hun Sen cũng nói, những kẻ nào không chịu thừa nhận vai trò của chiến thắng 7/1/1979 đối với Campuchia thì đều không xứng đáng làm người.
Khi các tên đồ tể của chế độ diệt chủng bị xét xử trong các phiên tòa quốc tế do Liên Hợp Quốc bảo trợ, người ta càng thấy rõ tính đúng đắn của việc Việt Nam tác động kịp thời vào tình hình Campuchia.
Tình cảm quyến luyến giữa bộ đội Việt Nam và nhân dân Campuchia (ảnh: vnmilitaryhistory)

Sự vô tư trong sáng của Việt Nam đã được nhà báo nổi tiếng người Australia, Wilfred Burchett, ghi nhận. Trong cuốn sách của mình, nhà báo này đã viết rằng quân tình nguyện Việt Nam tuyệt nhiên không có tư tưởng “nước lớn”, rất nhạy cảm và tôn trọng tâm lý của các dân tộc Lào và Campuchia.
Sau này, Thủ tướng Hun Sen khi nói về thời kỳ sau giải phóng đã khẳng định rằng, Campuchia đi theo con đường phát triển kinh tế khác với Việt Nam, hai nước có đàm phán và trao đổi ý kiến “nhưng quyền quyết định thuộc về Campuchia. Việt Nam tôn trọng độc lập chủ quyền, tôn trọng quyết định của Campuchia”.
Sự dung dưỡng kỳ lạ
Hitler trở thành tên đồ tể khét tiếng một phần là vì đã được nhiều thế lực tiếp tay. Tại nước Đức, Hitler trở thành quốc trưởng sau khi được giới tư bản nước này bật đèn xanh. Sau đó y xâm chiếm được một loạt nước châu Âu vì nhận được sự thỏa hiệp của các nước phương Tây muốn nước Đức Quốc xã nhanh chóng đưa quân đánh Liên Xô.
Tình hình ở Campuchia có một số nét tương đồng. Tập đoàn Pol Pot đã phạm những tội ác tày đình trong suốt 4 năm cầm quyền (1975-1979) nhưng nhiều quốc gia trên thế giới vẫn công nhận chúng, dửng dưng trước các tội ác đó và thậm chí còn ra sức hậu thuẫn cho Khmer Đỏ kể cả sau khi chúng đã bị lật đổ.
Chính vì có bàn tay “bảo kê” nên dù dân số Campuchia năm 1978 chỉ có khoảng 7 triệu người so với khoảng 50 triệu dân của Việt Nam, Khmer Đỏ vẫn liều lĩnh dốc gần toàn lực để đánh sang lãnh thổ Việt Nam - một đất nước giàu kinh nghiệm trận mạc. Giới nghiên cứu quốc tế cũng ghi nhận có nhiều “cố vấn” nước ngoài hiện diện trong quân đội Khmer Đỏ thời kỳ xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam.
Chủ tịch Quốc hội Campuchia Heng Samrin nhận xét: “Trong khi nhân dân Campuchia đang phải hứng chịu bao đau khổ thì có nhiều nước trên thế giới tự cho mình là người bảo vệ công lý, tôn trọng nhân quyền và quyền tự do bày tỏ chính kiến nhưng họ đã không đoái hoài, không đến giúp giải phóng nhân dân Campuchia chúng tôi thoát khỏi chế độ dã man này”.
Kỳ lạ hơn, chiếc ghế của “Campuchia Dân chủ” trong Liên Hợp Quốc vẫn được giữ sau khi Khmer Đỏ đã phạm nhiều tội ác và bị lật đổ. Nhiều nước tiếp tục coi chính thể Campuchia Dân chủ là đại diện duy nhất của Campuchia. Và đến tận những năm gần đây, việc xét xử các trùm diệt chủng Khmer Đỏ vẫn diễn ra và gặp khó khăn do sự cản trở của các thế lực từng đứng đằng sau hà hơi tiếp sức cho chế độ giết người này. Một số thủ lĩnh hàng đầu của Khmer Đỏ đã qua đời trước khi bị đưa ra ánh sáng công lý.
Phó Thủ tướng, Ngoại trưởng chính phủ Khmer Đỏ, Ieng Sary (giữa) - "Anh 3" của chế độ này, tại 1 phiên xét xử của Tòa án đặc biệt Quốc tế về tội ác Khmer Đỏ ở Campuchia (ECCC) tại Phnom Penh năm 2008 (ảnh: Reuters)

Sau năm 1979, lực lượng Khmer Đỏ “sống dai” ở vùng biên giới phía Tây của Campuchia và tiếp tục chống phá chế độ dân chủ mới thành lập ở nước này. Nhằm phá hoại cách mạng Việt Nam và cách mạng Đông Dương, một số quốc gia châu Á và phương Tây đã gia tăng viện trợ ngầm cho tàn quân Khmer Đỏ.
Phong trào Khmer Đỏ ban đầu mang yếu tố nội sinh nhưng đã bị các thế lực ngoại quốc thù địch với 3 nước Đông Dương lợi dụng triệt để nên mới có thể phát triển và tác oai tác quái đến như vậy.
Có một sự thật là, trước việc Việt Nam thống nhất vào năm 1975, một số cường quốc lấy làm không vui và muốn chia rẽ Đông Dương, biến Lào và Campuchia trở thành đối trọng của Việt Nam và gây “chảy máu” cho Việt Nam.
Bài học lịch sử
Chủ nghĩa sô vanh các loại (nước lớn, hẹp hòi…) luôn là mối đe dọa đến hòa bình thế giới và các giá trị con người.
Một số nước lớn sẵn sàng vì lợi ích ích kỷ mà can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác và  “nhắm mắt làm ngơ” trước các tội ác chống lại nhân loại.
Trong quan hệ quốc tế, Khmer Đỏ suy cho cùng cũng chỉ là một con rối trong tay các thế lực chống lưng nó. Đến khi không còn “phát huy tác dụng”, tổ chức này đã bị các nước dung dưỡng nó bỏ rơi một cách không thương tiếc và tan rã dần.
Đối với phong trào cộng sản, công tác xây dựng đảng rõ ràng rất quan trọng để ngăn chặn những biến thái như đã từng xảy ra với phong trào cách mạng Campuchia.
Thử thách Khmer Đỏ đã một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ răng - môi giữa 3 nước Đông Dương. Liên minh chiến đấu tình nguyện, tương trợ giữa 3 nước hình thành một cách tự nhiên từ vị trí địa chính trị của các nước này và cuộc đấu tranh chung của họ chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Thế chân vạc hiệu quả của 3 nước đã và đang là mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch.
Hiện nay, một số lãnh đạo Đảng Cứu quốc Campuchia, đứng đầu là Sam Rainsy, ra rả nói xấu Việt Nam và tình hữu nghị giữa 2 nước, ra sức kích động hằn thù dân tộc giữa 2 bên và có biểu hiện đi lại vào vết xe đổ của chế độ Pol Pot năm xưa.
Nhưng nhân dân Campuchia chắc chắn sẽ tỉnh táo đi theo con đường đúng đắn, kiên trì xây dựng đất nước mới, và tăng cường đoàn kết với các nước láng giềng, tránh cạm bẫy chia rẽ thâm độc của các thế lực thù địch./.

Thứ Năm, 9 tháng 1, 2014

Lá bàng đỏ rực khắp Hà Nội thu cuối đông

Nhắc đến cây bàng Hà Nội, nhiều người sẽ nhớ đến lời ca “Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ…” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Bàng bắt đầu đỏ lá vào mùa thu thật, nhưng không thật rộ. Chỉ đến những ngày cuối đông, đầu xuân, lá bàng mới gọi nhau hóa thành những “thảm” lá đỏ ửng, để rồi khi “chạm ngõ” mùa xuân, bàng sẽ khoác một tấm áo mới xanh nõn nà.


Bàng được trồng ở nhiều nơi, chẳng riêng gì Hà Nội, nhưng dường như chỉ ở thành phố này và một vài nơi có mùa đông thực thụ người ta mới thấy bàng đồng loạt đỏ lá. Bởi lẽ, ở nơi nào có nền nhiệt độ càng thấp, số ngày lạnh càng nhiều trong thời kỳ lá chuyển mình, lá bàng mới có màu đỏ thắm và “chín” đồng loạt hơn.

La bang do ruc khap Ha Noi
Hàng ngàn cây bàng ở Hà Nội đang vào mùa thay lá.
La bang do ruc khap Ha Noi
Đi trên các tuyến phố cổ Thủ đô, người dân dễ dàng bắt gặp những chùm cây lá đỏ.
Nó lặng lẽ và tinh nghịch giấu những chùm quả chín vàng dành dụm được suốt mùa thu trong tán biếc.

Đột nhiên, vào những ngày cuối năm, khi những vạt nắng hiếm cuối mùa len vào phố, khi nhà nhà hối hả chuẩn bị Tết nhất, những cây bàng trên phố phường, thường ngày có vẻ uể oải bỗng vội vã cựa mình, chuyển sang màu ửng đỏ.
La bang do ruc khap Ha Noi
Một vài nhành lá xanh trong chùm lá đỏ tạo nên mảng màu đẹp riêng biệt. Ảnh: Bill Nguyễn.
La bang do ruc khap Ha Noi
Tháng 1 và 2 là thời điểm mùa bàng thay lá.
Những chiếc lá xanh thẫm trước đó từ từ chuyển sang màu vàng, rồi đỏ và rụng đầy vỉa hè. (Ảnh chụp trên phố Tràng Thi).
La bang do ruc khap Ha Noi

La bang do ruc khap Ha Noi
Bên hông nhà thờ Lớn Hà Nội.
La bang do ruc khap Ha Noi
Bàng đỏ thường đẹp khi rung rinh bên những ô cửa sổ...
La bang do ruc khap Ha Noi
...Và nổi bật trên mái ngói của những ngôi nhà có nhiều dấu ấn thời gian.
La bang do ruc khap Ha Noi
Các tuyến phố có nhiều cây bàng là Mã Mây, Hàng Điếu, Văn Miếu, Hàng Cân, Hàng Chuối, Phùng Khắc Khoan, Tràng Thi, Cửa Nam, Tô Hiến Thành ...
La bang do ruc khap Ha Noi
Tại một căn biệt thự Pháp cổ.
La bang do ruc khap Ha Noi

La bang do ruc khap Ha Noi
Có những cành trơ trọi, thưa thớt khi nhiều lá đã rụng.
La bang do ruc khap Ha Noi
La bang do ruc khap Ha Noi
Có những cây bàng được người dân treo thêm lồng chim càng tăng thêm vẻ thơ mộng mỗi sáng mùa đông.

Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

Những lễ hội tại Việt Nam khiến người xem... rùng mình

 Là phong tục truyền thống có từ lâu đời ở mỗi vùng nhưng những lễ hội như chém lợn, chạy lợn hay đâm trâu với cảnh tượng đầy máu me khiến người xem không khỏi rùng mình ghê sợ.

Lễ hội chém lợn tại Bắc Ninh
Lễ hội chém lợn đầu năm tại làng Ném Thượng (Tiên Du, Bắc Ninh) được diễn ra vào ngày mồng 6 Tết Âm lịch hàng năm. Lễ hội này luôn để lại những luồng ý kiến khác nhau về tục lệ này; đặc sắc, truyền thống nhưng quá dã man, đầy hủ tục…
Tục truyền rằng: có một vị tướng cuối đời Lý tên Lý Đoàn Thượng, khi đánh trận chạy đến vùng núi này đồn trú đã chém lợn rừng nuôi quân. Từ đó, người dân đã mở hội chém lợn hằng năm để tưởng nhớ đến người có công khai khẩn vùng đất hoang vu này.
Những lễ hội tại Việt Nam khiến người xem... rùng mình
Con lợn bị chém sẽ được một người khỏe mạnh nhất và phải đúng 50 tuổi chém đứt đôi một cách nhanh chóng.Theo tín ngưỡng dân gian của người dân nơi đây máu lợn trong lễ tế thánh tượng trưng cho sự sung túc, khả năng sinh sản, sức sống tràn trề, mùa màng bội thu... Vì vậy sau mỗi khi chém lợn, người dân hoặc du khách tranh nhau sờ vào tiết lợn dây đầy trên sân để cầu may. Lợn tế thánh được chia cho mọi người trong làng với mong muốn cả làng được phát tài, phát lộc.
Lễ hội "chạy lợn" tại Hà Nội
Bắt nguồn từ thế kỷ 18, lễ hội Chạy Lợn ở Trại Diền (thôn Duyên Yết, Hồng Thái, Phú Xuyên, Hà Nội) là cuộc mổ lợn “thần tốc” nhằm kịp khao đội quân lên đường cho trận Ngọc Hồi – Đống Đa do Vua Quang Trung lãnh đạo.
Những lễ hội tại Việt Nam khiến người xem... rùng mình
Lễ hội Chạy Lợn được tổ chức hàng năm vào mồng 7 Tết âm lịch. Theo thông lệ, các “ông lợn” chỉ được giao cho các gia đình nền nếp, con cháu thành đạt, phương trưởng chăm nuôi. 10 ngày trước lễ hội, "ông lợn" chỉ ăn cháo gạo nếp và được tắm rửa bằng nước lá thơm hằng ngày.
Cuộc thi chạy lợn của làng Duyên Yết được diễn ra với sự tham gia của 3 xóm. Khi tiếng trống lệnh bắt đầu, các lực sỹ khiêng “ông lợn” chạy vào sân đình. Người chặt đầu, người cạo lông, người lấy phủ tạng, chỉ chưa đầy 2 phút, chiếc thủ lợn ngậm đuôi, gầu o, vai, mông, cùng phủ tạng đã được bày lên khay chuẩn bị dâng lễ.
Lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên
Lễ hội đâm trâu là một lễ hội nhằm mục đích tế thần linh hoặc những người đã có công chủ trì thành lập buôn làng, ăn mừng chiến thắng, ăn mừng mùa màng bội thu hay ăn mừng các sự kiện quan trọng khác. Đây là một trong những lễ hội truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên ở Việt Nam.
Những lễ hội tại Việt Nam khiến người xem... rùng mình
Dân làng chọn một con trâu khỏe mạnh đưa đi tắm rửa sạch sẽ và cho ăn uống no nê rồi đem buộc bằng dây mây vào một cây cột cao trên 5 m. Trên đỉnh cột thường đặt một biểu trưng chẳng hạn như chim phượng hoàng tạc bằng gỗ.
Chủ trì đọc lời khấn cầu xin hay tạ ơn thần linh và mời thần linh xuống ăn thịt trâu, uống rượu cần. Chủ trì khấn xong thì các đội cồng chiêng bắt đầu diễn tấu. Cả làng nhảy múa, ca hát, uống rượu, biểu diễn võ thuật.
Nghi lễ đâm trâu là phần quan trọng bậc nhất của lễ hội. Các tráng sĩ được trang bị lao dài sẽ phóng lao giết trâu, vừa phóng lao vừa biểu diễn các bài võ thuật.
Con trâu bị giết được đem xẻ thịt nhỏ chia cho các nhà trong buôn làng cùng liên hoan.

Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

40 năm Hải chiến Hoàng Sa: Ai đã biết

Ngày 11/1/1974, Trung Quốc đơn phương tuyên bố chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Kèm theo tuyên bố vô căn cứ, Trung Quốc phái nhiều tàu võ trang và tàu chiến xâm nhập hải phận Hoàng Sa.





Ngày hôm sau 12/1/1974, ngoại trưởng Việt Nam cộng hòa (VNCH) Vương Văn Bắc đã cực lực bác bỏ luận điệu ngang ngược và lên án hành động xâm lăng gây hấn của Trung Quốc. Đồng thời, Bộ tư lệnh hải quân VNCH khẩn cấp tăng cường chiến hạm tuần tiễu tại vùng biển Hoàng Sa.

Đổ bộ, cắm cờ và khiêu khích

Đô đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải, viết trong hồi ký: “Vào ngày 15/1/1974, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ16), hạm trưởng là trung tá Lê Văn Thự, được lệnh đưa địa phương quân thuộc tiểu khu Quảng Nam và nhân viên khí tượng ra Hoàng Sa để thay thế toán đang ở ngoài đó hết nhiệm kỳ. Cùng đi còn có hai sĩ quan công binh đi theo tàu để nghiên cứu việc tu sửa lại cầu tàu tại Hoàng Sa và một người Mỹ tên Gerald Kosh xin đi để biết đảo Hoàng Sa...
Tàu cá vũ trang Trung Quốc cản đường chiến hạm VN tiến vào Hoàng Sa.
Khi chiến hạm vừa khởi hành, tôi được báo cáo từ Hoàng Sa là thấy một vài ghe đánh cá xuất hiện rất gần bờ tại đảo Pattle. Tôi liền chuyển tin tức đó cho chiến hạm HQ16”.
Sáng 16/1, đến đảo Pattle (Hoàng Sa), HQ16 cho bốn nhân viên cơ hữu dùng xuồng chở sáu người trong đoàn công binh lên đảo do thiếu tá Hồng chỉ huy và trong khi chờ đoàn công binh trở lại tàu, hạm trưởng HQ16 “thấy trên đảo Quang Hòa bốn năm người ăn mặc như thường dân, có người ở trần, đi lại gần một dãy nhà đang cất dở dang”. Hạm trưởng Thự liền hỏi bộ chỉ huy và được biết trên đảo này không có “quân ta”.
Đến trưa 16/1/1974, HQ16 lại thấy “một chiến hạm Trung Quốc xuất hiện trong vùng”. Trung úy Đào Dân, sĩ quan phụ tá trên HQ16, ra lệnh đánh tín hiệu nhưng tàu lạ im lặng. Ông viết trong hồi ký: “Tôi liền hội ý với hạm trưởng và khai hỏa đại liên 30 li cố ý đuổi nó ra khỏi vùng đảo nhưng tàu lạ vẫn không nhúc nhích”. HQ16 tiến gần hơn khoảng 500m thì thấy rõ lá cờ Trung Quốc. Một mặt HQ16 báo cáo về bộ chỉ huy, một mặt dùng tay, cờ và loa phóng thanh tiếng Hoa “yêu cầu ra khỏi hải phận Việt Nam”. Lúc đó tàu Trung Quốc không trả lời, nhiều người lên boong tàu, “đa số mặc quần cụt, áo thun, một số mặc quân phục”. Mãi một lúc lâu, tàu Trung Quốc cũng lên tiếng “yêu cầu ngược lại”. Đồng thời, “nhiều tàu cá xuất hiện cạnh đảo Money và hàng trăm lá cờ Trung Quốc cắm rải rác dọc bờ cát trắng”.
Trước tình hình đặc biệt nghiêm trọng này, trung tá Thự phải báo cáo về bộ tư lệnh hải quân và xin được tăng viện. Khu trục hạm Trần Khánh Dư số hiệu HQ-4, do trung tá Vũ Hữu San làm hạm trưởng, được lệnh khẩn cấp hành quân ra Hoàng Sa.
40 năm đã trôi qua, cựu thượng sĩ Trần Dục hiện đang sống ở Huế vẫn không thể quên được cuộc hành quân đặc biệt này. “Khoảng giữa tháng 1/1974, khu trục hạm HQ-4 Trần Khánh Dư sắp hoàn thành nhiệm vụ tuần tra biển vùng 1 và chuẩn bị vào bờ. Đang tính toán lên bờ Đà Nẵng sẽ mua sắm quà tết gì cho gia đình thì bất ngờ nhận nhiệm vụ mới ở Hoàng Sa. Anh em binh sĩ, thủy thủ đoàn chưa rõ tình hình nhưng đoán nhiệm vụ rất quan trọng. Bởi tết nhất rồi mà còn phải hành quân khẩn cấp chắc chắn phải có lý do quân sự”. Ông Dục lúc ấy là quản trưởng có trách nhiệm thay mặt hạm trưởng sắp xếp, điều động toàn bộ nhân sự trên tàu.

Cuộc hành quân lúc 0h

Công tác chuẩn bị của khu trục hạm Trần Khánh Dư rất gấp rút. Buổi chiều, hạm trưởng San lên bờ họp trong khi bộ phận còn lại hối hả tiếp liệu, lương thực, đạn dược... Khoảng nửa đêm 16/1, tàu quay mũi rời Đà Nẵng hướng ra Hoàng Sa. Ngoài binh sĩ cơ hữu, tàu chở thêm một trung đội biệt hải do đại úy Nguyễn Minh Cảnh chỉ huy. HQ-4 là chiến hạm thuộc lớp hiện đại nhất thời điểm ấy của hải quân VNCH nên tốc độ khá cao. Khoảng trưa 17/1, khu trục hạm HQ-4 Trần Khánh Dư đã gia nhập với tuần dương hạm HQ16 Lý Thường Kiệt có mặt từ trước.
Tư lệnh vùng 1 duyên hải Hồ Văn Kỳ Thoại “chỉ định trung tá Vũ Hữu San giữ chức vụ chỉ huy chiến thuật (OTC-officer in tactical command) phân đội hoạt động vùng Hoàng Sa, gồm tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ16) và khu trục hạm Trần Khánh Dư”. Trung úy hải quân Đào Dân kể: Vừa nhập vùng, HQ-4 hành động ngay. HQ-4 từ phía nam đảo Money chạy lên, HQ16 từ đảo Pattle chạy xuống kềm chặt hai chiếc tàu Trung Quốc vào giữa. Hai bên đấu khẩu nhau. Cuối cùng HQ-4 nổ máy đâm thẳng tàu địch đuổi nó ra khơi”.
Đảo Quang Hòa (Duncan) - nơi bắt đầu trận hải chiến Hoàng Sa 1974
Là một trong những sĩ quan thường xuyên có mặt trên đài chỉ huy cùng hạm trưởng San, cựu trung úy Phạm Ngọc Roa (hiện sống ở Lâm Đồng), phụ tá sĩ quan hải hành, kể: “Hạm trưởng San là một người thẳng thắn và nóng tính, sẵn sàng thực hiện ngay việc mình xác quyết là đúng. Trung tá San lệnh dùng cờ, quang hiệu lẫn loa phát tiếng Việt, Trung, Anh để đuổi tàu Trung Quốc. Lúc đầu tàu Trung Quốc còn im lặng, đậu lì. Sau đó họ cũng trả lời dối trá lại đây là vùng chủ quyền Trung Quốc, yêu cầu tàu VNCH phải rời ngay lập tức. Hai bên vờn nhau mãi không giải quyết được gì, trung tá San cảnh báo, rồi ra lệnh bẻ lái ủi thẳng vào chiếc tàu giả trang ngư nghiệp 407 của Trung Quốc theo hướng đẩy ra xa đảo. Mũi khu trục hạm Trần Khánh Dư cao lớn hơn, chồm lên đè bể một phần buồng lái chiếc tàu 407 làm nó và một chiếc gần đó hoảng sợ, phải lùi ra xa.
Ông Dân mô tả “Trước thái độ quyết liệt của HQ-4, tàu địch bỏ chạy về phía nam của hai đảo Duy Mộng và Quang Hòa. Sau khi đuổi hai tàu địch, HQ-4 đổ bộ khoảng 20 người nhái lên đảo Money dẹp cờ Trung Quốc, cắm cờ VN. Còn HQ16 chuẩn bị đổ bộ 15 nhân viên cơ hữu lên đảo Robert do trung úy Lâm Trí Liêm chỉ huy. Toán này mang vũ khí đầy đủ, lương thực khô vài ba ngày”.
Thượng sĩ giám lộ Lữ Công Bảy trên HQ-4 kể: “Trung đội biệt hải lên đảo Vĩnh Lạc không phát hiện gì ngoài vài nấm mộ hình như mới đắp, không có bia, chỉ có cọc gỗ và bảng gỗ đóng trước đầu mộ ghi chữ Trung Quốc với ngày sinh và chết mấy chục năm trước. Các chiến sĩ biệt hải được lệnh đào bới các nấm mộ lên, chẳng thấy xương cốt gì cả. Đây là những nấm mộ ngụy tạo...”.
Đêm 17 rạng 18/1 là đêm cực kỳ căng thẳng. Phía Trung Quốc tiếp tục tăng cường lực lượng và cố tình khiêu khích. Các chiến hạm của họ tiến sâu vào lãnh hải Hoàng Sa. Tàu HQ-4 và HQ16 dùng tín hiệu cảnh cáo: “Đây là lãnh hải của Việt Nam. Yêu cầu các ông hãy rời khỏi đây ngay!”. Phía Trung Quốc đáp trả rằng Hoàng Sa là của họ! 
Các chiến hạm Việt Nam tăng viện, được lệnh phải giành lại các đảo vừa bị quân Trung Quốc đổ bộ xâm chiếm.



Trung tá hạm trưởng HQ-4 Vũ Hữu San - Ảnh tư liệu
Sáng 17/1, theo nhà nghiên cứu Trần Đỗ Cẩm, “HQ16 quay lại đảo Cam Tuyền thấy hai tàu Trung Quốc vẫn còn đó. Ngoài ra, gần đảo Vĩnh Lạc (Money) lân cận cũng có tàu Trung Quốc xuất hiện với hàng trăm lá cờ Trung Quốc cắm rải rác dọc bãi cát trắng. Hạm trưởng HQ16 liền báo cáo “hai tàu cá Trung Quốc không tuân lệnh của chiến hạm VNCH ra khỏi lãnh hải VN và xuất hiện hai tàu chở quân của Trung Quốc đến gần đảo và trên bờ có cắm nhiều cờ của Trung Quốc”. Nhận được báo cáo, đô đốc Hồ Văn Kỳ Thoại ra lệnh cho HQ16 đổ bộ nhân viên cơ hữu lên đảo Vĩnh Lạc để triệt hạ cờ Trung Quốc.

Trung tá Thự cho một toán đổ bộ gồm một trung úy và 14 đoàn viên của chiến hạm trang bị M79 và súng cá nhân lên bờ bằng xuồng cao su để nhổ hết cờ Trung Quốc mới cắm và thay bằng cờ Việt Nam.












Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...