Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012

Nồng nàn Hà Nội

Có lẽ với Josh, Hà nội đáng yêu là ở chỗ đó, mặc dù trước đây, Josh đã có dịp sống ở Hà nội chỉ vẻn vẹn một tháng nhưng những gì về Hà nội rõ ràng là Josh vẫn chưa quên được: cảnh vật, con người, phố xá những chiều cuối tuần thật vui và nhộn nhịp!
Quanh khu vực Hồ Gươm luôn là điểm thu hút du khách cũng như người dân thủ đô, Josh có thể thấy rất nhiều hoạt động đang diễn ra ở đây và Josh cũng đang là tâm điểm ở đây nè!!!
Ca hát vốn là sở thích của Josh, đặc biệt là những “bài tủ” nhạc Việt thì khỏi phải nói, Josh rất thích các bài hát Việt, vì qua đó Josh có thể học và trau dồi thêm vốn luyến tiếng Việt của mình mà! Thấy các bạn trẻ ở đây hào hứng ủng hộ quá nên làm Josh cũng thấy tự tin hẳn lên!
Không biết bao nhiều lần Josh đã đi ngang đây, mỗi lần lại cho Josh một cảm xúc khác nhau, nhìn những đôi bạn trẻ hẹn hò, những đôi vợ chồng đang rạng rỡ cho những bức hình cưới làm khung cảnh quanh đây thêm đẹp và lãng mạn hơn. Hà nội một chiều cuối tuần thanh bình là vậy!
Josh thường nghe nói “Hà nội 36 phố phường” nên ít nhiều cũng hiểu ý tứ câu nói này, quả thật không sai, lang thang trên ngõ ngách, góc phố ở Hà nội mới cảm nhận hết nhịp sống nơi đây. Quanh khu vực Nhà thờ lớn chiều cuối tuần quả thật rộn rã, đa số là các bạn trẻ với đủ phong cách tụ họp ở đây huyên thuyên chuyện trò, lâu lâu lại nhấm nháp miếng trà chanh hay cắn hạt hướng dương cho đỡ buồn miệng. Vui thiệt, làm Josh nhớ khu Hàn thuyên, công viên 30-4 gần nhà thờ Đức bà ở Sài gòn quá!
Tính vốn thích động, ở yên một chỗ là Josh rất buồn cứ thích la cà nên hỏi thăm đến khu phố Tây khám phá. Cũng nhộn nhịp chẳng kém gì phố Phạm Ngũ Lão, rất nhiều bạn nước ngoài ở đây, các hàng quán bày bán những đồ lưu niệm, thủ công mỹ nghệ,….đa dạng và phong phú lắm!
Tuy nhiên, cái mà Josh ấn tượng nhất vẫn là được một lần thưởng thức ca trù Việt Nam trong không gian rất “mộc” thế này. Sân khấu nhỏ thôi, nhiều nhất cũng 10 khán giả, khán đài cách sân khấu một khoảnh sân, có 3 nghệ sĩ. Ca trù có rất nhiều tên gọi như hát cô đầu, hát ả đào... trong đó tên gọi ca trù xuất phát từ việc khán giả thưởng các thẻ trù (thẻ tre) cho ca nương mỗi khi có câu hát hay, nhịp phách khéo. Và tại sao Josh lại không thử tìm hiểu các loại nhạc cụ này nhỉ, âm nhạc vốn là sở thích của Josh mà!
Ái chà, hoàn toàn mới lạ nhưng Josh sẽ nhanh chóng bắt nhịp được!
Vậy là một ngày khám phá cũng đã kết thúc, với Josh đây quả là một ngày nhiều sự kiện để nhớ, Josh hi vọng rằng sẽ có nhiều dịp để Josh cùng chia sẻ những cảm xúc thân thương về Việt Nam trong những chuyến phiêu lưu tiếp theo với chương trình

Lễ hội đua bò An Giang tập

Cơ duyên đến với An Giang cũng vì Sự kiện lễ hội văn hóa thể thao du lịch đồng bào khơ me Nam bộ lần 5-2011. Đến thị xã Châu đốc, đâu đâu, Will cũng thấy cờ phướng, băng rôn, biểu ngữ chào mừng lễ hội, nhìn thật hào hứng! Nhưng mặc dù là những ngày cuối năm, miền tây nam bộ nóng như đỗ lửa, khác hẳn với khí hậu 4 mùa rõ rệt ở nước của Will!



Mặc dù thời gian, sống ớ Việt Nam chưa lâu như một số bạn nước ngoài khác nhưng Will cố gắng để trau dồi vốn tiếng Việt cùng những hiểu biết của mình về lịch sử và văn hóa các bạn, Will được biết, An Giang là vùng đất trù phú có núi non xen lẫn đồng bằng, phát triển cả nông lâm ngư nghiệp, cùng nhiều điểm du lịch nổi tiếng. Will rất hào hứng khi được về tham dự lễ hội này!


Toàn bộ lễ hội diễn ra ở cách xa trung tâm hơn 20 cây số: Khu công nghiệp Xuân Tô là địa điểm chính diễn ra đêm khai mạc, còn đua bò và đua ghe thì lại ở hai địa điểm khác!


Các gian hàng của 12 tỉnh có đồng bào Khơme nam bộ sinh sống đang hoàn tất những công đoạn cuối cùng cho đêm khai mạc. Mỗi một tỉnh lại bày trí một cách khác nhau, nhưng vẫn mang nét chung của dân tộc Khơ me ở tỉnh mình.
Các tư liệu và hình ảnh ở đây giúp Will hình dung rõ hơn về đời sống văn hóa phong phú của người Khơ me ở Việt Nam.
Khi Will đến thì trận đua đã là vòng thứ hai mươi mấy rồi, nghe ban tổ chức nói, các nài bò đã thức từ rất sớm còn khán giả thì đổ về từ các tỉnh cũng từ 5-6h sáng.


Lễ hội đua bò Bảy núi là lễ hội của đồng bào khơ me Nam bộ vùng miền núi nổi tiếng từ lâu vì vậy Will không ngạc nhiên vì sao nó lại sôi nổi như vậy.
Vì học tiếng Việt qua các bài báo Việt Nam, Will cũng có biết từ “bão xe” giờ lại biết thêm “bão bò” nữa đó! Nói cho vui vì thấy không khí ở đây hào hứng quá! Vui quá! Vậy tại sao không xông vào đường pit để làm cuộc phỏng vấn ngắn với các nài bò!


Đa số các nài bò ở đây là những nông dân ở An Giang cũng có, ở các tỉnh lân cận cũng có, các anh thật chất phác và dễ gần. Quý vị và các bạn biết không, vốn biết tiếng Việt của mình còn chưa rõ nên Will phải cố nói thật “tròn vành rõ chữ”, nếu không cả 2 bên chỉ biết cười trừ thì thật tai hại!!! Các anh, các bác cũng cố gắng lắng nghe từng chữ từng từ của Will, họ thật dễ thương! 
Một cặp bò thường là bò đực, được người nông dân xem như cả gia tài của mình, cứ mỗi lần đến lễ hội, là họ ăn ngủ với bò, nói vậy bởi công đoạn chăm sóc một cặp bò khỏe cho trận đấu cũng chẳng dễ, nghe các anh nói vậy chứ Will biết công việc cũng cực nhọc lắm!


Khu vực pít là nơi các cặp bò chuẩn bị cho dẫn ra mắt ban giám khảo và khán giả theo lời của Ban tổ chức, mỗi cặp bò thi đấu sẽ đi ngang khu vực giám khảo rồi trọng tài mới bắt đầu cho thi đấu. Có 2 vòng: vòng thả và vòng hô, sau đó chạy nước rút về đích!!! Vì mới tham gia lần đầu nên Will cũng chưa nắm rõ qui luật của môn thi đấu này lắm! Nhưng tranh thủ động viên chú bò này mới được!
Những câu hỏi đã là chất liệu tốt cho bài viết, Will phải có những tấm ảnh quý giá về chân dung rất thực của các anh, đây quả là một lễ hội rất ấn tượng mà Will đã được tham gia với chương trình.


Ái chà, trước giờ ra trận đã có một chú bò lún sình rồi! Sự cố là không thể tránh khỏi, nhưng các nài bò kinh nghiệm ở đây giải quyết tình huống rất nhanh, gọn, lẹ!
Những vòng đua tiếp quả thật rất quyết liệt, căng thẳng và kịch tích!!! Hãy xem những người nài bò, họ thật điêu luyện và khéo léo, Will liên tưởng họ giống những vị tướng đang xông trận! Kĩ năng nài bò trên cái bừa đó cũng chẳng dễ, bí quyết là ở sự thăng bằng! Nếu xơ hở, bạn dễ dàng té chứ chẳng chơi!


Đua ghe ngo lại được tổ chức ở một địa điểm khác, trời quang đãng, báo hiệu một cuộc đua hấp dẫn đây!
Ai chà, đua rồi, đua rồi!!!! Hồi hộp quá!!! Mỗi đội một màu, hình như có 6 đội, 3 vòng đấu, theo đánh giá của bà con ở đây thì đội Trà Vinh, Sóc Trăng là mạnh nhất!!!


Một chiếc ghe ngo có khoảng từ 50-60 người chèo, họ chèo theo hiệu lệnh và rất nhịp nhàng, mỗi đội lại có một chiến thuật riêng, giúp ghe của mình lướt nhẹ trên mặt nước đó nha!


Đêm khai mạc hoành tráng cũng đã đến, hàng ngàn người dân ở đây, ai cũng háo hức cho đêm hội và rất nhiều người khơ me về đây tham dự. Các gian hàng giờ đã đông đúc hẳn lên, sống động hơn vào buổi tối!


Đêm trình diễn nghệ thuật lại một tái hiện lại những sinh hoạt đời sống tinh thần của người Khơ me, nào là các điệu múa, các phong tục trong những ngày lễ tết quan trọng, Will như được đắm mình trong bữa tiệc của âm thanh và màu sắc! Rất thực và rất ý nghĩa!

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2012

Cam Ranh – đệ nhất quân cảng "I Love you VietNam"

Trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, vịnh Cam Ranh luôn giữ vai trò là một quân cảng quan trọng bậc nhất. Hội tụ đầy đủ những ưu thế mang tầm chiến lược về địa lý, hàng hải cũng như vị thế lịch sử quan trọng, Cam Ranh ngày nay luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt không chỉ của giới quân sự mà cả các nhà đầu tư quốc tế.
Gần đây, khi Việt Nam chuẩn bị xây dựng trung tâm cảng dịch vụ tại vịnh Cam Ranh nhằm tăng cường tác dụng của khu vực này trong việc đảm bảo an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế xã hội, người ta lại càng thấy quý giá hơn những gì Cam Ranh đã, đang và sẽ mang lại cho đất nước…

Ai làm chủ được Cam Ranh, người ấy sẽ làm chủ được biển Đông

Vịnh Cam Ranh nằm trên tọa độ 11 độ kinh Đông, 12,10 độ vĩ Bắc, thuộc tỉnh Khánh Hòa, có vị trí địa - chính trị chiến lược quan trọng trên các tuyến hàng hải quốc tế Singapore, Hồng Kông, Thượng Hải, Yokohama. Được hình thành từ hai nhánh núi bao bọc, vịnh Cam Ranh có chiều rộng trung bình 12-13km, độ sâu từ 18-32m, có diện tích hơn 60km2 và cách đường hàng  hải quốc tế khoảng 1 giờ tàu biển. Điều kiện thủy văn, địa chất rất thuận lợi, thủy triều trong vịnh khá đều đặn, tương đối đúng giờ. Đáy vịnh bằng phẳng, chủ yếu là cát phù sa khá chắc. Ngoài cửa vịnh có các đảo và cù lao chắn gió nên vịnh lặng sóng, thuận tiện cho thuyền neo đậu, tàu có trọng tải 100.000 tấn ra vào dễ dàng.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
   Toàn cảnh vịnh Cam Ranh nhìn từ trên cao

Nhiều nhà chiến lược phương Tây đã đánh giá Cam Ranh là một “pháo đài tự nhiên lý tưởng”, “một đồn phòng vệ của Thái Bình Dương”. Cửa vào cảng vịnh Cam Ranh hẹp bé, khó tiến công, dễ phòng thủ, địa thế hiểm yếu, không chế được hoàn toàn khu vực Biển Đông và là khu phòng thủ trọng yếu chiến lược trấn giữ giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Tạp chí Hải quân Mỹ Proceedings số tháng 10/1991 có viết: “Đối với hải quân Mỹ, Nga hay Trung Quốc, ai làm chủ được Cam Ranh, sẽ làm chủ được “trò chơi mèo vờn chuột” ở vùng biển Đông Nam Á và biển Đông”.

Từ xa xưa, các nhà quân sự đã nhận thấy tầm quan trọng chiến lược của vịnh Cam Ranh. Tại đây hội tụ đầy đủ các yếu tố thuận  lợi để xây dựng Cam Ranh thành một căn cứ quân sự lớn trong khu vực.

Trong cuộc chiến tranh Nga-Nhật năm 1905, sau khi hạm đội Viễn Đông bị Nhật Bản đánh tan, các tàu của hạm đội Bantich của Nga hoàng Nicolas đệ II do Đô đốc Zinovy Rozhestvensky chỉ huy vượt qua hành trình trên 16.628 hải lý đến Viễn Đông đã ghé vào vịnh Cam Ranh ngày 12/4/1905 để sửa chữa, tiếp nhiên liệu, lương thực, nước ngọt và than suốt một tháng trước khi tham gia trận đánh tại eo biển Tsushima nằm giữa Triều Tiên và Nhật Bản.

Sau chiến tranh Nga - Nhật lo sợ trước âm mưu tranh giành thuộc địa của Nhật Bản ở Viễn Đông và Thái Bình Dương, năm 1911, Chính phủ Pháp đã cử Đại úy hải quân Filiommeus chỉ huy xây dựng một quân cảng ở Cam Ranh thành một căn cứ hải quân lớn trong kế hoạch “phòng thủ chung” ở Đông Dương và xây dựng nhiều căn cứ quân sự khác trên đảo Cam Ranh hòng đối phó với cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Nhưng ngày 15/9/1940, Nhật gửi tối hậu thư đòi kiểm soát các căn cứ hải quân, trong đó có cảng và vịnh Cam Ranh. Năm 1942, Nhật chiếm cảng Cam Ranh, đồng thời xây dựng thêm sân bay làm bàn đạp chính để đánh chiếm Malaysia và các thuộc địa của Anh, Mỹ ở Thái Bình Dương.

Trong chiến tranh Việt Nam, Cam Ranh là một căn cứ quan trọng nhất của quân đội Mỹ và Chính quyền Sài Gòn. Năm 1965, Mỹ quyết định xây dựng Cam Ranh thành căn cứ quân sự liên hợp hải - lục- không quân và khu hậu cần lớn nhất Đông Nam Á để làm căn cứ tiếp liệu, khí tài quân sự và binh sĩ cho chiến tranh Việt Nam, đồng thời khống chế hành lang phía Tây Thái Bình Dương. Tại đây, Mỹ đã xây dựng căn cứ không quân gồm một sân bay với hai đường băng có chiều dài hơn 3.000m dùng cho máy bay hiện đại kể cả B52, một sân bay dùng cho trực thăng và hệ thống đường sá với tổng chiều dài 260km.

Tháng 3/1967, chính quyền Thiệu - Kỳ đã ký hiệp định bán đứng vùng bán đảo và vịnh Cam Ranh cho Mỹ 99 năm, bao gồm một vùng rộng lớn với diện tích 260km2 và Mỹ đã biến Cam Ranh thành căn cứ hải quân lớn nhất Đông Nam Á. Vịnh Cam Ranh trở thành trung tâm chỉ huy cho các hoạt động tuần tra trên không của hải quân Mỹ để giám sát chiến dịch “Market Time”, nhằm ngăn chặn Quân giải phóng Miền Nam Việt Nam.

Quân cảng Cam Ranh thời chiến tranh Việt Nam

Căn cứ Cam Ranh trở thành địa điểm chính sửa chữa tàu biển và cung cấp đạn dược, hậu cần cho hải quân, bao gồm cả cho tàu khu trục và tàu đổ bộ của hạm đội 7, Mỹ. Năm 1968, quân số của quân đội Mỹ và các lực lượng chư hầu ở Cam Ranh lên tới 30.000 quân (20.000 quân Mỹ và 10.000 quân của các nước chư hầu). Ở khu vực này còn xây dựng hệ thống kho tàng hậu cần và hệ thống tên lửa phòng không. Đặc biệt tại đây, quân đội Mỹ lần đầu tiên sử dụng cá heo được huấn luyện để bảo vệ cảng Cam Ranh.

Cam Ranh thời bình – căn cứ địa bảo vệ và xây dựng đất nước

Từ năm 1979, theo hiệp định ký kết giữa Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên Xô, cảng Cam Ranh được dùng làm căn cứ hậu cần, tên gọi đầy đủ là Điểm cung cấp vật liệu - kỹ thuật số 922 (PMTO) của hạm đội Thái Bình Dương với diện tích khoảng 100km2 trong thời hạn 25 năm, phục vụ một đơn vị thường trực chiến đấu mang tên Liên đội tàu chiến số 17 của Hạm đội Thái Bình Dương.

Hải quân Liên Xô đã xây dựng thêm tại Cam Ranh 5 cầu tàu, 2 bãi chứa tàu lên cạn để bảo trì và sửa chữa; xây dựng thêm cơ sở tàu ngầm, kho chứa dầu, nhà máy điện, doanh trại; nâng cấp, kéo dài đường băng của sân bay, và một trung tâm trinh sát điện tử hiện đại.

Đơn vị đầu tiên của hải quân Liên Xô gồm 54 người đến triển khai trên bán đảo Cam Ranh vào tháng 4/1980. Ba năm sau, cả một hải đoàn cơ động của Hạm đội Thái Bình Dương đã được bố trí ở đây trong đó có các tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình chống hạm Project 670, 675, 675M; tàu ngầm nguyên tử chống tàu ngầm chiến lược Project 659, 671; tàu ngầm điện - diezei tiến công thông thường Project 641; Lữ đoàn tàu chiến đấu mặt nước số 119 (trang bị tuần dương mang tên lửa Project 1134, tàu khu trục tên lửa 956 và tàu hộ vệ tên lửa Project 1234).

Thời gian cao điểm năm 1986, quân số cao nhất lên tới 6.000 quân nhân và kỹ sư, công nhân Liên Xô/Nga làm việc tại đây. Liên Xô đã xây dựng ở đây khoảng 30 công trình bảo đảm. Như vậy, Cam Ranh trở thành căn cứ hậu cần lớn nhất của Hải quân Liên Xô ở nước ngoài, làm đối trọng với căn cứ quân ở hải ngoại lớn nhất của Mỹ tại Subic, Philippines.

Vào năm 2001, chính phủ hai nước Việt Nam và Liên bang Nga đã nhất trí chấm dứt sớm thỏa thuận ký năm 1979 trước 2 năm và ngày 4/5/2002, Đại tá chỉ huy trưởng Eryomin là người cuối cùng rời Cam Ranh, chấm dứt giai đoạn hiện diện của các lực lượng quân sự nước ngoài tại cảng Cam Ranh.

Sau khi Nga quyết định rút khỏi Cam Ranh, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam đã ra tuyên bố: Quan điểm của Việt Nam về việc sử dụng cảng Cam Ranh trong tương lai là sẽ không hợp tác bất cứ nước nào để sử dụng Cam Ranh vào mục đích quân sự. Việt Nam sẽ khai thác có hiệu quả nhất những tiềm năng và lợi thế của Cam Ranh phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để khẳng định lại quan điểm nhất quán của Việt Nam, ngày 30/10/2010, tại cuộc họp báo kết thúc Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 17 và các hội nghị cấp cao liên quan, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thông báo: Việt Nam đã quyết định sẽ tự mình xây dựng cảng Cam Ranh bằng nguồn lực của chính mình. Cảng này sẽ trở thành càng dịch vụ tổng hợp, đảm bảo phục vụ Lực lượng Hải quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam  và “Việt Nam sẵn sàng cung cấp dịch vụ cho tàu hải quân của tất cả các quốc gia, kể cả tàu ngầm, khi họ yêu cầu. Việt Nam sẽ cung cấp các dịch vụ như nhiều các quốc gia khác đã làm và theo cơ chế thị trường. Việt Nam đang xem xét ký hợp đồng thuê doanh nghiệp có khả năng, trình độ kỹ thuật cao, có kinh nghiệm, chuyên ngành của Nga để tư vấn giúp Việt Nam xây dựng trung tâm cảng dịch vụ này”.

Tuyên bố xây dựng một trung tâm dịch vụ hậu cần kỹ thuật tại Cam Ranh có một ý nghĩa rất to lớn đối với quốc phòng – an ninh và phát triển kinh tế xã hội, du lịch của Cam Ranh, đồng thời thu hút sự quan tâm lớn của cộng đồng quốc tế. Quyết định này thể hiện quan điểm độc lập tự chủ, tính nhất quán của Việt Nam về tương lai của cảng Cam Ranh, về đường lối đối ngoại quốc phòng của Việt Nam phù hợp với quan điểm “ba không” trong quốc phòng, trong đó có không cho bất cứ nước nào vào đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam, và là  biểu hiện sinh động đường lối phát triển kinh tế gắn liền với quốc phòng an ninh của Đảng ta.

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đã tuyên bố: “Đây là căn cứ làm dịch vụ hậu cần kỹ thuật cho tất cả các nước trên thế giới, với tinh thần bình đẳng… Đồng thời nó không phải là một căn cứ quân sự nước ngoài, hay là cho nước ngoài thuê để làm căn cứ hậu cần kỹ thuật”. Bằng việc cho tàu của tất cả các nước tiếp cận với Cam Ranh, Việt Nam một mặt đã khẳng định chủ quyền của mình, mặt khác đã nối dài cách tiếp cận đa phương hóa trong việc sử dụng Cam Ranh và bảo đảm quyền tự do hàng hải trên biển Đông.

Giáo sư Carlyle Thayer, chuyên gia về Việt Nam và Châu Á tại Học viện Quốc phòng Australia đã đánh giá cao Quyết định của Việt Nam khi cho rằng, hiện nay nhiều nước quan tâm đến địa điểm và quyền tiếp cận hơn là thiết lập căn cứ. Việc mở cửa vịnh Cam Ranh cho lực lượng Hải quân nước ngoài là một  ngón đòn “bậc thầy” trong chính sách đối ngoại “đa phương” của Việt Nam.

Khi Trung tâm Cảng dịch vụ hậu cần kỹ thuật đi vào hoạt động. Các tàu nước ngoài sẽ được đảm bảo các dịch vụ như tiếp nhiên liệu và các nhu cầu yếu phẩm khác, bảo dưỡng, sửa chữa, thủy thủ đoàn nghỉ ngơi. Nguồn tài chính từ những dịch vụ này sẽ giúp chúng ta bù lại những chi phí cho hoạt động cả dân sự và quân sự. Một mặt là cơ hội để chúng ta nghiên cứu, học hỏi và tiếp cận những công nghệ đóng tàu hiện đại của thế giới, mặt khác chúng ta bớt lãng phí về năng lực. Chúng ta có quyền hy vọng Cam Ranh có thể trở thành một trong những cảng dịch vụ tốt nhất trong khu vực trong những năm tới.

Thiếu tướng Từ Linh (ANTG)

10 điều về Việt Nam khiến thế giới kinh ngạc


Việt Nam đã đổi thay rất nhiều kể từ sau khi thống nhất đất nước năm 1975, nhưng 10 điểm nổi bật nhất vừa được Viện Nghiên cứu Toàn cầu McKinsey công bố không khỏi khiến thế giới thực sự kinh ngạc.

10 điều đáng ngạc nhiên đó của Việt Nam vừa được tờ Foreign Policy đăng tải với tiêu đề 10 Things You Didn’t Know About Vietnam (tạm dịch: "10 điều bạn chưa biết về Việt Nam"). Dưới đây là nội dung bài báo.
Bài viết về Việt Nam nằm ở vị trí nổi bật của tờ Foreign Policy.
Đã có rất nhiều thay đổi rõ ràng ở Đông Nam Á kể từ sau cuộc chiến tranh thống nhất đất nước ở Việt Nam. Hơn 25 năm qua, Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Trong năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của cộng đồng kinh tế toàn cầu thông qua đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO. Nhờ đó, Việt Nam trở thành quốc gia thu hút đầu tư nước ngoài mạnh mẽ, và đã phát triển một nền kinh tế sản xuất và dịch vụ từ kinh tế nông nghiệp truyền thống.
1. Việt Nam phát triển kinh tế nhanh thứ hai châu Á
Đất nước Việt Nam từng bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh nhưng đã nhanh chóng chuyển mình để đứng trong top đầu châu Á sau hơn một phần tư thế kỉ. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định cải cách theo đường lối “đổi mới” năm 1986, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế thu hút đầu tư lớn từ nước ngoài cũng như phát triển nội tại để trở thành nền kinh tế phát triển nhanh thứ hai châu Á sau Trung Quốc. Đó là thành công mà nước ngoài không thể ngờ Việt Nam sẽ đạt được sau những gì đã phải trải qua trong chiến tranh.
2. Việt Nam đang đi lên từ cây lúa
Nền kinh tế Việt Nam không còn xoay quanh nông nghiệp. Trong thực tế, đóng góp từ nông nghiệp vào GDP của đất nước đã giảm từ 40% xuống 20% sau 15 năm, điều mà thế giới chưa từng chứng kiến ở bất kì quốc gia châu Á nào khác. Nếu so với 29 năm của Trung Quốc và 41 năm của Ấn Độ để đạt được điều tương tự, sẽ không quá khi gọi đó một thành công vượt bậc của Việt Nam. Sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của Việt Nam.
3. Giảm nông nghiệp nhưng Việt Nam vẫn đứng top đầu thế giới về xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản
Việt Nam đang dẫn đầu thế giới trong việc xuất khẩu các loại mặt hàng nông sản như hạt tiêu, hạt điều, cà phê và gạo. Trong năm 2010, Việt Nam cung cấp cho thế giới 116.000 tấn gia vị, đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo và cà phê. Ngoài ra, Việt Nam đứng thứ năm thế giới về xuất khẩu trà, thứ sáu về các mặt hàng thủy hải sản như cá tra, mực, tôm và cá ngừ.
4. Việt Nam không phải bản sao của Trung Quốc
Việt Nam thu hút đầu tư nước ngoài nhờ nhân công rẻ cũng như những chính sách của chính phủ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, giống nhiều nước châu Á khác, điển hình là Trung Quốc. Tuy nhiên, Việt Nam có rất nhiều điểm khác biệt so với nước láng giềng. Đầu tiên, kinh tế Việt Nam thúc đẩy tiêu dùng cá nhân mạnh hơn Trung Quốc. Tiêu dùng hộ gia đình ở Việt Nam chiếm 65% GDP, con số đáng mơ ước của nhiều nước châu Á, trong khi Trung Quốc chỉ đạt 36%. Thứ hai, tăng trưởng kinh tế nhanh của Trung Quốc dựa vào xuất khẩu và tiền vốn đầu tư nước ngoài đặc biệt cao, tuy nhiên Việt Nam cân bằng hơn giữa sản xuất và dịch vụ, trong đó mỗi lĩnh vực chiếm khoảng 40% GDP. Tăng trưởng Việt Nam rộng rãi hơn và có sự cạnh tranh trên nhiều mặt, góp phần tăng tính ổn định của phát triển kinh tế.
5. Việt Nam cực kì thu hút đầu tư nước ngoài
Việt Nam đang đứng đầu danh sách những thị trường mới nổi hấp dẫn đầu tư nước ngoài. Khảo sát của Economist Intelligence Unit (EIU), một cơ quan uy tín của Tạp chí kinh tế Anh đã xếp hạng Việt Nam đứng thứ tư trong danh sách những nền kinh tế thu hút đầu tư nước ngoài nhất thế giới. Ngoài ra, lượng du khách tới Việt Nam đã tăng 1/3 so với năm 2005.
6. Cơ sở hạ tầng Việt Nam tiên tiến hơn Philippines và Thái Lan
Việt Nam có những đầu tư đáng kể vào cơ sở hạ tầng. Nhằm phục vụ phát triển kinh tế, Việt Nam đã xây dựng hệ thống đường sá khá hiện đại và quy mô. Ngoài ra, điện lưới đã được kéo đến 96% lãnh thổ đất nước, gồm cả những khu vực vùng sâu vùng xa. Nhiều sân bay, cảng biển được xây dựng nhằm phục vụ vận chuyển hàng hóa và giao thương giữa Việt Nam và quốc tế.
7. Thế hệ trẻ Việt Nam đều được phổ cập Internet
Việt Nam là quốc gia có dân số trẻ, được đào tạo tốt và ngày càng tiếp cận nhiều với khoa học công nghệ. Số thuê bao điện thoại ở Việt Nam hiện đạt 170 triệu, trong đó có 154 triệu là thuê bao di động. Ngoài ra, số thanh niên Việt Nam tiếp xúc với Internet dù chỉ đạt 31%, nhưng đã có những gia tăng theo cấp số cộng hàng năm. Trong năm 2010, Việt Nam đã đạt 7,7 triệu thuê bao Internet qua mạng 3G, một con số đáng ngạc nhiên.
8. Việt Nam đang ngày càng sử dụng nhiều nhân công nước ngoài
Hiện có hơn 100.000 chuyên gia nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ và phần mềm đang làm thuê tại Việt Nam, bao gồm cả những chuyên viên của các tập đoàn danh tiếng như Hewlett-Packard, IBM và Panasonic. Ngoài ra, những lao động trong các lĩnh vực khác cũng tìm đến Việt Nam để làm việc và sinh sống ngày càng nhiều, chứng tỏ Việt Nam là một thị trường hứa hẹn.
9. Ngân hàng Việt Nam đang vượt xa khu vực về cho vay
Ngân hàng Việt Nam đang cho vay một số lượng lớn tiền và tăng tới 33% mỗi năm. Nó cho thấy sự năng động của nền kinh tế Việt Nam, tuy nhiên cũng gây ra những lo ngại nợ xấu có thể gây ảnh hưởng đến nền kinh tế, hệ thống ngân hàng và người nộp thuế.
10. Việt Nam đang mất lực phát triển
Lực lượng lao động trẻ và sự chuyển dịch nhanh chóng từ lao động nông nghiệp sang công nghiệp đã tạo ra những động lực cho tăng trưởng của Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai sự thúc đẩy đó đang có dấu hiệu suy yếu dần, nên sự tăng trưởng của Việt Nam được dự báo sẽ giảm xuống trong thập kỉ tới. Chính vì lẽ đó, Việt Nam phải tăng hiệu suất lao động nhằm duy trì tăng trưởng của nền kinh tế.

Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2012

Thành lập Trung tâm bảo vệ khách du lịch

Hiệp hội Du lịch Việt Nam đề xuất với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần cấp bách xây dựng Trung tâm du khách để bảo vệ khách du lịch.
Thông tin được đưa ra tại buổi Tọa đàm Xây dựng hình ảnh Việt Nam qua hoạt động du lịch vừa tổ chức sáng nay (23/2) ở TP.HCM.
Thành lập Trung tâm bảo vệ khách du lịch
Trung tâm du khách nhằm bảo vệ khách du lịch an toàn
Theo đó, trung tâm này sẽ được thành lập tại bất cứ vùng miền nào có khu du lịch lớn và ít nhất là 3 lượt triệu du khách/năm như Quảng Ninh, Hải Phòng, TP.HCM, Hà Nội, Khánh Hòa…
Không chỉ có nhiệm vụ cung cấp tất cả các thông tin liên quan đến tour, dịch vụ du lịch…, Trung tâm du khách còn như một đường dây nóng, khi khách du lịch gặp trục trặc về bất cứ vấn đề gì sẽ được các lực lượng an ninh hoặc các cơ quan chức năng khác đến giải quyết, bảo vệ du khách trong thời gian nhanh nhất.
Theo ông Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam, ý tưởng này được hình thành sau khi Hiệp hội nhiều lần đề nghị thành lập cảnh sát du lịch nhưng không thành công nên đã tự lập các đội bảo vệ du khách. Kết quả cho thấy, tình trạng chèo kéo, chặt chém du khách đã giảm đi đáng kể. Do đó, Hiệp hội quyết định đề xuất thành lập Trung tâm du khách càng sớm càng tốt.
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...